Bài viết chép lại từ cuốn Tử Vi Khảo Luận của hai tác nhái Hoàng Thường và Hàm Chương

Khoa tử vi phương Ðông dựa trên tư tưởng cổ đại từ thời Tống Nho bên Trung hoa. Theo tư tưởng đó, trời đất lúc đầu là Thái Cực chỉ với một khí, sau khi chia làm hai khí âm và khí dương.

Xem chi tiết: tu vi 2018 tuoi canh ngo

Ân dương biến hóa sinh ra vạn vật.

Vạn vật nằm trong mối liên quan liên quan qua lại, phụ thuộc lẫn nhau khôn xiết mật thiết, biến dịch ko ngừng, chuyển hóa lẫn nhau theo các chu kỳ nhất thiết .

Vạn vật (Thiên Ðịa Nhân) do năm chất cơ bản tạo thành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Năm chất này được gọi là Ngũ Hành thúc đẩy tương hỗ có nhau mang khi tương trợ, kiến lập cho nhau thì gọi là tương sinh, sở hữu lúc triệt tiêu nhau gọi là tương khắc. Con người là một thành phần trong vạn vật. Trong giai đoạn sinh thành và phát triển của mình, con người chịu sự xúc tiến từng giờ từng phút của đa số yếu thấp khác nhau và chính mình cũng thúc đẩy trở lại yếu tố đấy. Mối liên tưởng khăng khít này nẩy sinh từ khi thụ thai trong bụng mẹ bởi thế phương Ðông người ta thường cùng thêm một buổi vào năm sinh và ta quen gọi là tuổi ta, tuổi mụ.

Ðạo sĩ è Ðoàn, tôn danh là Hi Di sống thời mạt Ðường, tiền Tống bên Trung Hoa, đã theo tư tưởng Triết học cổ đại (kinh Dịch) biên soạn ra khoa Tử vi. Tiên sinh sử dụng những sao để tư cách hóa những cảnh ngộ cuộc sống để đoán vận mệnh con người. Truyền thuyết đề cập rằng ông thọ 118 tuổi, ko vợ ko con, chỉ tu tiên học đạo trên núi Hi Di và cực kỳ chuyên nghiệp môn toán học.

khi soạn cuốn Tử vi khảo luận này, vì bắt buộc với cảm thông triệt để giữa người đọc và người viết, chúng tôi dành phần đầu để cắt nghĩa ngắn gọn những danh từ thường dùng vì danh mang chính thì ngôn mới thuận.

Mở bất cứ cuốn Tử vi nào cũng thấy đề cập ngay tới các từ như CụcMệnhThânHành, rồi lại Can, Chi, tới Âm Dương sinh, khắc mà ko kèm lời định nghĩa các danh từ khó hiểu.

thí dụ câu sau đây: “Mệnh của đương số khắc mang cục phải sinh ra bế tắc

cần hiểu Mệnh là gì Cục là gì. Tại sao hai số này khắc lại gây ra sự bế tắc cho đương số? Chừng nào chưa có sự thấu đáo về định nghĩa những từ thì không mang sự thông cảm giữa người viết và quý bạn.

một. Ðịnh nghĩa

Tử vi là khoa đẩu số Ðông phương tiêu dùng vào việc dự đoán số mệnh con người dựa trên nguyên lý âm dương, ngũ hành.

Thoát thai từ Kinh Dịch, tổ tiên è cổ Ðoàn biến những số lượng âm dương của những hào quẻ thành những sao tượng trưng tính chất thăng giáng tốt xấu, các cách cư xử đúng sai của đương số trong toàn bộ tình cảnh của cuộc sống.

các người nghiên cứu Tử vi thường tất cả luống tuổi, sở hữu 1 học vấn trên mức canh bản và cũng siêu cẩn trọng trước khi bước vào con đường khó khăn nhưng cũng nhiều hứng thú này.

Lý đoán căn số mang thể dựa trên những dữ kiện nhất mực hay tình cờ, với thể bằng trực giác hay luận giải. Khoa Tử vi, một công nghệ thực dụng chủ nghĩa để lý đoán số mệnh , được gọi là chuẩn xác nhất vì đã dựa vào các dữ kiện thời gian tức năm, tháng, ngày, giờ sinh.

những dữ kiện này bên cạnh việc những nhân tố buộc phải và đủ để thiết lập lá số, còn làm cho vượt trội tính bí quyết đặc thù của mỗi cá nhân, biểu lộ được các bản năng tiềm ẩn của từng người và dự báo được vòng thịnh suy của cuộc đời họ nữa.

2. Lá số

Là một tài liệu biên chép các dữ liệu năm, tháng, ngày, giờ sinh cùng tên họ đương số. Trên lá số mang an các sao tiêu dùng để lý đoán căn số.

Lá số sở hữu hai phần:

  1. Ðịa bàn tức 12 cung quanh đó.
  2. Thiên bàn tức cung to ở giữa.

Trên Thiên bàn và Ðịa bàn ngoại trừ những sao còn ghi Can Chi và Ngũ hành.

Ông thầy đoán số Tử vi coi tổng quát lá số, lý giải lá số và chỉ rõ cho người xem số những tình cảnh , các vận hạn và nhân đấy chỉ cho người này xử trí các biến cố. Gọi là xử trí chứ không chỉ được phương pháp giảm thiểu các biến cố, chỉ đối xử sao cho các biến cố không tác hại quá đến đương số. Sau đó mỗi khi gặp các trường hợp khó xử, người xem lại tới hỏi thầy cách xử trí trong tình cảnh mới. Xem như vậy, lá số là 1 nhịp cầu giao thông giữa thầy đoán số và người xem số, cũng như giữa thầy thuốc và bệnh nhân vậy.

3. Năm, tháng, ngày, giờ sinh

Ðược tính theo âm lịch. Giả dụ ko biết tính thì giờ Âm lịch thì dựa vào cuốn lịch Thế kỷ hay theo các đĩa vi tính an sao làm cho để sẵn để chuyển đổi tử dương lịch sang âm lịch.

tỉ dụ năm 1957 dương lịch là năm Ðinh Dậu của âm lịch.

Năm 1968 là năm Mậu Thân, năm 1975 là năm Ất mão âm lịch, năm 2003 là năm Quí Mùi.

4. Các sao

Còn gọi là Tinh, là Diệu, là Ðẩu. Thi dụ: Cung vô chính diệu là cung ko với chính tinh, Nam đẩu tinh, Bắc đẩu tinh là những sao phương Nam và phương Bắc. Những sao này chẳng hề là sao trên trời mà là các danh xưng nhắc lên các ý nghĩa về phúc, họa, giầu, nghèo, sang, hèn, và các cảnh ngộ con người kinh qua trong suốt cuộc đời .

Trong Hệ từ truyện (Kinh Dịch), khi bàn về Thiên văn, với viết rằng: “Quan hồ thiên văn dĩ sát thời biến” (ngắn tượng trời đất để xét sự đổi thay thời tiết).

Theo Nghệ Văn Chí thì khoa Thiên văn thời cổ sử dụng để xếp đặt thứ tự của 28 ngôi sao (thực ra là 28 chòm sao) trên bầu trời, đặt mối ảnh hưởng về vị trí của chúng trên đường Hoàng đạo tương ứng sở hữu sự thay đổi khí hậu, qua ấy suy ra tính cát hung của các sao. Căn cứ vào đấy các vua chúa ngày xưa điều khiển chính sự.

những chòm sao trên được chia theo bốn hướng Ðông Tây Nam Bắc theo Hà đồ và Âm Dương:

  • những chòm 1-6 ở phương Bắc, thuộc Thủy màu đen là chòm Nguyên vũ.
  • các chòm 2-7 ở phương Nam, thuộc Hỏa màu đỏ là chòm Chu tước.
  • những chòm 3-8 ở phương Ðông, thuộc Mộc màu xanh là chòm Thanh long.
  • các chòm 4-9 ở phương Tây, thuộc Kim, màu trắng là chòm Bạch hổ.
  • Ở trọng tâm là những chòm số 5-10 thuộc Thổ màu vàng.

Như thế, việc xem Thiên văn khi đầu là coi sự chuyển di của những tinh đẩu để đoán vận nước phải chăng xấu giúp cho các vua chúa trị nước an dân chứ ko dùng vào bốc phệ cũng như dự đoán ngày mai những cá nhân.

Số sao trằn Ðoàn tiên sinh tiêu dùng trong khoa Tử vi lại có khoảng 128 vị (2 lần 64 quẻ Dịch) để an trong các lá số nhưng chỉ sở hữu 110 sao là thông dụng thôi. Các sao è Ðoàn tiêu dùng chỉ có tính bí quyết biểu trưng chẳng hề là những sao ta thấy trên bầu trời hàng đêm.

bí quyết phân chiếc các sao cũng khác nhau, nhưng đại thể thì chia ra chính tinh, trung tinh, phụ tinh, cứu tinh, hung tinh, sát tinh, tài tinh. Gọi bí quyết nào cho tới nay thì tùy theo ý thích của từng người.

Ta chưa sở hữu bản danh từ thống nhất về khoa Tử vi.

tỉ dụ 1 phương pháp gọi: Tử vi là chính tinh, Tả, Hữu là trợ tinh, ko Kiếp là sát tinh, Thiên Ðồng là cứu tinh, Thiên Khôi là quí tinh.

5. Tuổi âm lịch và Can Chi

Tuổi âm lịch được ra đời bằng hai yếu tố: Can và Chi.

Can tức thị gốc, nghĩa là những gì trời cho ta khi ta chào đời, những gì đã được định sẵn ko thêm ko bớt, hay thì ta được nhờ, dở thì ta nên chịu.

Chi tức là cành, nghĩa là vùng đất ta rơi vào lúc sinh ra, vùng đất với hoa màu nuôi nấng ta, vùng đất sau này ta có thể canh tác để nuôi thân, tức thị bản thân ta mang thể tu chỉnh lại để cho cuộc sống rẻ đẹp hơn.

Muốn sở hữu tuổi âm lịch, ta ghép 1 can với một chi như: Giáp Tí, Giáp là can và Tí là chi; Ất là can và Sửu là chi.

6. Âm Dương

Âm dương là hai cực mâu thuẫn, tranh đấu , tương phản nhau, nhưng lại nương tựa vào nhau. Không với gì hoàn toàn Dương hay hoàn toàn Âm. Trong Âm sở hữu Dương, trong Dương mang Âm. Âm đẩy Âm, Dương đẩy Dương, Âm hấy dẫn Dương, Dương lôi kéo Âm.

Dương giáng, Âm thăng, những gì Dương thì dáng xuống, các gì Âm thì thăng lên. Qui luật Dương giáng Âm thăng có ý nghĩa to to trong triết lý cuộc sống. Âm cường thịnh thì Dương suy, Dương thịnh thì Âm suy. Lúc Âm tiêu tán thì Dương xuất hiện, khi Dương đạt cực cường thịnh thì Âm sinh ra.

đề cập tóm lại, Âm Dương là khái niệm về hai cái đối nghịch trên trần gian và cuộc sống ngày như ngày và đêm, nóng và lạnh, cao và phải chăng, vui và buồn, mạnh và yếu, phồn thịnh và suy, phúc và họa. Âm dương luôn luôn cọ sát, đun đẩy, chờ đợi nhau để sinh ra sự sống, như hình ảnh cái bễ lò rèn, ống bễ trên này ép xuống thì ống bễ bên kia đẩy lên, lên xuống liên tục tạo ra công thổi khiến than cháy đỏ. Phúc họa nằm sẵn trong nhau, mạnh yếu chỉ là tương đối , hưng thịnh suy chỉ là giai đoạn… tất cả chỉ xoay quanh co nhịp biến đổi tuần hoàn của Âm Dương mà thôi.

Trong 12 cung của một lá số thì các cung Tí, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất là cung dương, các cung Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi là cung âm.

Âm dương được gọi là thuận lý:

– lúc người dương nam hay dương nữ với Mệnh đóng tại cung dương, khi người âm nam hay âm nữ với Mệnh đóng tại cung âm.

Thí dụ: Người nam tuổi Giáp Thân (Giáp dương), Mệnh đóng tại cung Tí (dương)

Người nữ tuổi Ất Sửu, Ất (âm), Mệnh đóng tại cung Mão (âm)

ngoài ra trường hợp người nam, Mệnh đóng tại cung dương mà với tuổi âm thì vẫn nghịch lý, cũng vậy, nếu như người nữ Mệnh đóng tại cung âm mà sở hữu tuổi dương cũng là nghịch lý.

7.Ngũ hành

khái niệm Ngũ Hành có sau khái niệm Âm Dương.

Con người thời bán khai buộc phải vật lộn mang tự nhiên để giành sự sống nên đã sắm cần chiếc nguyên lý cơ bản cấu tạo bắt buộc sự vật để mua bí quyết thống trị tự nhiên.

Họ tin rằng năm yếu tố chính tạo buộc phải sự vật là: Kim (sắt), Mộc (gỗ), Thủy (nước), Hỏa (lửa), Thổ (đất) và đặt tên là Ngũ hành.

Mỗi cung của địa bàn mang một hành.

  • những cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi: hành Thổ.
  • những cung Thân, Dậu: hành Kim.
  • các cung Dần, Mão: hành Thủy.
  • những cung Tỵ, Ngọ: hành Hỏa.

Cung có hành riêng, Mệnh mang hành riêng.

Xem thêm: http://baihoccuocsong.net/

Tùy theo năm sinh ta tính được Mệnh thuộc hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, hay Thổ.

Ðể ngắn gọn ta gọi hành của Mệnh là Mệnh.

Cục cũng mang hành của Cục. Khi nhắc hành của cục là ý nhắc cục thuộc hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa hay Thổ. Ðể ngắn gọn, ta gọi hành của Cục là Cục.

Ngũ hành có thể tương sinh như: Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc…

Ngũ hành sở hữu thể tương khắc như: Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc.

trường hợp ta coi ngũ hành như năm cánh sao của một ngôi sao, ta sở hữu trật tự sau đây ko thay đổi:

Mộc Hỏa Thổ Kim Thủy, ta thấy rõ các hành nào ngay lập tức nhau thì tương sinh, còn những hành nào phương pháp nhau thì tương khắc.

8. Mệnh

Hay là số phận tức thị các gì trời cho ta khi ta chào đời. Mang thuyết kể Mệnh là Quả của chiếc

Nhân ta đã gieo từ nhiều kiếp trước.

Mệnh là vùng là vùng đất ta rơi vào lúc sơ sinh mẹ. Vùng đất này coi ngó ta, nuôi nấng ta, tốthay xấu, tùy theo những gì trời đã ban cho ta tượng trưng bởi các sao, đặc trưng là chính tinh.

9. Thân

Là phương pháp ứng xử của ta trong cuộc thế để hưởng phú quí hay chịu khổ cực của kiếp nhân sinh.Thân là Ta, là hành động của ta trước loại số mệnh trời đã an bài.

với người nhắc Mệnh xúc tiến con người từ nhỏ đến 30 tuổi còn ngoại trừ 30 thì xem ở thân.Nói vậy ko đúng hẳn vì ở con người, dòng Mệnh nên luôn luôn đi đôi mang cái Thân.

Mệnh suy Thân vượng hay Mệnh vượng Thân suy đều ko phải chăng , cần với Thân Mệnh đều rẻ thì mới đẹp cả về tinh thần và vật chất được. Giả dụ trong hai mà sở hữu 1 xấu thì cả hai cùng xấu.

10. Cục

Cục khác với Mệnh. Cục là môi trường xã hội ta sống từ buổi lọt lòng .Cục có hành của cục như Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Cục Kim với số 4 gọi là Kim Tứ Cục, cục Mộc sở hữu số 3, cục Hỏa mang số 6, cục Thủy mang số 2, cục Hỏa có số 5. Theo quan niệm xưa, người ta canh cứ vào Ngũ hành để đặt tên Cục. Mỗi Cục chỉ là 1 con sốcủa Ngũ hành như ta thấy ở trên. Chúng tôi đồng ý sở hữu quan niệm này nhưng xin đưa ra 1 định nghĩa mới căn cứ vào vị trí của sao Tử vi trong 12 cung mà ấn định Cục (hoàn cảnh xã hội) của từng người

Thí dụ: Tử vi cư Ngọ là vua ngồi trên ngai vàng. &Ldquo;Ðế cư đế vị”. Tử vi thuộc Thổ, cung Ngọ thuộc Hỏa; hỏa sinh Thổ, tình cảnh tiện lợi cho con người, xã hội ổn định, trên dưới nghiêm minh.

một người có cách Tử vi cư Ngọ, dù Mệnh đóng ở bất cứ cung nào thì Cục vẫn là phương pháp “Ðế cư đế vị”, phải người này sinh hoạt, giao du mang những người quyền quí đàng hoàng. Chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này trong những phần sau.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.