Trong 09 tháng đầu năm 2017 có 20 doanh nghiệp mới thành lập là công ty hợp danh trong tổng số 93.967 doanh nghiệp mới thành lập trên cả nước, trong khi đó con số này là 12 công ty hợp danh trên 81.451 doanh nghiêp mới thành lập trong 09 tháng đầu năm 2016. Tại sao số lượng công ty hợp danh lại chiếm con số ít hơn rất nhiều so với những loại hình công ty khác như vậy? sau đây, công ty Luật PhamLaw – với những chuyên viên có nhiều kinh nghiệm thực hiện thủ tục doanh nghiệp từ khi thành lập đến khi giải thể doanh nghiệp, cũng như am hiểu về luật doanh nghiệp, xin được tư vấn đến quý Khách những thông tin khái quát về công ty hợp danh để trả lời cho câu hỏi trên. Đồng thời cũng là cơ sở nền tảng để quý Khách có nhu cầu thành lập doanh nghiệp tham khảo lựa chọn cho mình loại hình công ty phù hợp.

Trước tiên, cần khẳng định, công ty hợp danh là loại hình công ty đối nhân duy nhất theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành. Điều 172 Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã đưa ra định nghĩa về công ty hợp danh. Theo đó, trong công ty hợp danh có thành viên hợp danh và thành viên góp vốn, trong đó, thành viên hợp danh – chỉ có thể là cá nhân đã quen biết nhau từ trước, là thành viên bắt buộc phải có trong công ty hợp danh với số lượng thành viên tối thiểu là 02; còn thành viên góp vốn có thể – có thể là cá nhân hoặc tổ chức, có thể có hoặc không.

Như vậy, từ định nghĩa trên, có thể thấy được một số đặc điểm của công ty hợp danh như sau:

  • Thứ nhất, về thành viên trong công ty

Như đã trình bày ở trên, là loại hình công ty đối nhân, trong công ty hợp danh có ít nhất 02 thành viên là cá nhân quen biết, có sự tin tưởng lẫn nhau thỏa thuận cùng nhau góp vốn, cùng sở hữu 01 công ty và cùng liên đới chịu trách nhiệm vô hạn đối với các nghĩa vụ của công ty.

Ngoài ra, công ty hợp danh có thể có thêm thanh viên góp vốn, chịu trách nhiệm hữu hạn đối với các nghĩa vụ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp.

  • Thứ hai, về quyền quản lý, đại diện trong công ty hợp danh

Về nguyên tắc, các thành viên hợp danh có quyền thỏa thuận về việc điều hành, quản lý công ty.

Đồng thời, trong quá trình hoạt động, mỗi thàn viên hợp danh đều có quyền đại diện theo pháp luật cũng như điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty.

  • Thứ ba, về việc phát hành trái phiếu, cổ phiếu để huy động vốn, công ty hợp danh không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào để huy động vốn. Vì vậy, công ty hợp danh bị hạn chế về khả năng huy động vốn.
  • Thứ tư, về tư cách pháp nhân

Mặc dù, thành viên hợp danh chịu trách nhiệm vô hạn đối với các nghĩa vụ của công ty, tuy nhiên, công ty hợp danh lại có sự tách biệt rõ ràng giữa tài sản của công ty và tài sản của các thành viên trong công ty. Vì vậy, công ty hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

Bạn nên xem qua1 số luật giải thể công ty trước khi thành lập công ty :
https://phamlaw.com/thu-tuc-giai-the-cong-ty.html
https://phamlaw.com/bieu-mau-ho-so-giai-the-cong-ty-co-phan-moi-nhat.html
https://phamlaw.com/thu-tuc-giai-the-cong-ty-tnhh.html

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.